Rủi ro khi thanh toán bằng tín dụng chứng từ dưới góc nhìn án lệ số 13

Luật sư Đặng Phúc Nguyên

Trợ lý Luật sư Lê Đăng Khoa

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Letter of Credit hay “L/C”) là một phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên, chính từ việc sử dụng rộng rãi mà các bên tham gia thường không quan tâm nhiều vào điều khoản L/C trong hợp đồng. Trên thực tế, phương thức L/C cũng chứa khá nhiều rủi ro như được dẫn chiếu trong Án lệ số 13/2017/AL do Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao (“HĐTP”) thông qua ngày 14/12/2017 (“Án lệ 13”).

Hiệu lực của L/C khi hợp đồng mua bán là cơ sở của L/C bị hủy bỏ

Rất nhiều người cho rằng L/C là một phần không thể tách rời của hợp đồng mua bán hàng hóa (“Hợp đồng Mua bán”) nên khi hợp đồng bị hủy bỏ thì các bên sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, bao gồm cả các nghĩa vụ liên quan đến L/C. Tuy nhiên, Án lệ 13 đã công nhận L/C là một hợp đồng độc lập bởi khi L/C được điều chỉnh bởi các quy định trong Bộ Quy tắc và thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ (“UCP600”) do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành thì L/C sẽ được xem là “một giao dịch riêng biệt đối với Hợp đồng Mua bán”.

Từ cách tiếp cận trên, do L/C được xem là một giao dịch độc lập nên mặc dù Hợp đồng Mua bán trong Án lệ 13 bị hủy bỏ, L/C vẫn có giá trị và ràng buộc các bên. Việc Án lệ 13 được công nhận sẽ dẫn tới một hệ quả rằng nếu điều khoản L/C không được quy định chặt chẽ thì bên mua/bên nhập khẩu (“Bên mua”) có thể phải đối mặt với một số hậu quả. Cụ thể, theo Án lệ 13 thì mặc dù Hợp đồng Mua bán đã bị hủy bỏ nhưng do bên bán/bên xuất khẩu (“Bên bán”) xuất trình được bộ chứng từ phù hợp nên Ngân hàng phát hành vẫn phải thanh toán cho Bên bán.

Bản chất của L/C trong mối liên hệ với UCP600

Về bản chất, L/C được xem là một hình thức thanh toán quốc tế được tạo lập dựa trên sự thỏa thuận giữa Bên mua và Bên bán trong mối quan hệ với các ngân hàng. Mục đích của L/C là tạo ra sự đảm bảo của Bên mua cho Bên bán về việc thanh toán giá trị hàng hóa theo Hợp đồng Mua bán thông qua phương thức ký quỹ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự tại các ngân hàng.[1]

Về mặt pháp lý, pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể khi nào thì biện pháp bảo đảm ký quỹ sẽ chấm dứt. Tuy nhiên, xem xét dưới góc độ một nghĩa vụ dân sự dùng để đảm bảo cho một nghĩa vụ dân sự khác và trong mối tương quan với các biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, thế chấp,[2] hiệu lực và thời hạn của biện pháp ký quỹ sẽ phụ thuộc vào thời hạn của giao dịch được đảm bảo. Nghĩa là, khi Hợp đồng Mua bán bị hủy bỏ, dẫn đến nghĩa vụ của Bên mua không còn thì biện pháp bảo đảm tương ứng là ký quỹ cũng sẽ đương nhiên chấm dứt do nghĩa vụ được bảo đảm không còn.

Trên thực tế, cách hiểu này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là L/C trong Án lệ 13 lại lựa chọn UCP600 làm văn bản áp dụng và điều chỉnh nội dung của L/C. Do đó, bên cạnh nội dung Hợp đồng Mua bán sẽ được xem xét và giải quyết theo luật áp dụng của các bên thì khi có tranh chấp xảy ra, cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ còn phải dựa vào UCP600 để giải quyết các vấn đề liên quan đến L/C.

Theo Án lệ 13, HĐTP căn cứ vào Điều 2, Điều 4, Điều 5 và Điều 7 của UCP600[3] (“Các Điều khoản”) để cho rằng L/C tồn tại độc lập và tách biệt, không phân biệt nội dung hay hình thức, so với Hợp đồng Mua bán kể từ khi được tạo lập. Việc này không phải là không có căn cứ bởi một (01) trong hai (02) nguyên tắc cơ Principle of Independence).

Giải pháp hạn chế rủi ro khi sử dụng L/C

Thực tế, không phải Người mua sẽ luôn phải đối mặt với rủi ro trong trường hợp sử dụng L/C để thanh toán. Theo Điều 34 của UCP600 về miễn trách nhiệm về tính hợp lệ của chứng từ, Ngân hàng sẽ không có nghĩa vụ hoặc chịu trách nhiệm đối với hình thức, sự đầy đủ, tính chính xác, tính chân thực, sự giả mạo hoặc hiệu lực pháp lý của bất cứ chứng từ nào. Tuy nhiên, nếu Bên mua có căn cứ rõ ràng, chứng minh được chứng từ được xuất trình là giả mạo, không phù hợp với thỏa thuận của hai bên về bộ chứng từ thì Ngân hàng có quyền xem xét để từ chối thanh toán cho người thụ hưởng.
 
Ngoài ra, để đảm bảo không bị thiệt hại khi tham gia các quan hệ thương mại quốc tế và tránh các hậu quả có thể xảy ra, một điều vô cùng quan trọng là Bên mua cần tham khảo ý kiến của  luật sư để quy định các điều khoản của L/C thật chi tiết và rõ ràng khi yêu cầu mở L/C tại ngân hàng, đặc biệt là các điều khoản liên quan đến số lượng, chất lượng, quy cách đóng gói, bộ chứng từ yêu cầu kèm theo và luật áp dụng. Trong đó, nếu các bên đồng ý sử dụng UCP600, cần lưu ý rằng bộ quy tắc này cho phép các bên bảo lưu/không áp dụng một hoặc một số điều khoản, miễn là bản thân L/C phải loại trừ và chỉ ra một cách rõ ràng về việc không áp dụng các điều khoản đó. Khi đó, nếu cần thiết, các bên có thể loại trừ các điều khoản mang tính chất xem L/C là một giao dịch độc lập và trong trường hợp có rủi ro xảy ra như vụ việc được đề cập tại Án lệ 13, hiệu lực của L/C sẽ phụ thuộc vào và chấm dứt khi Hợp đồng Mua bán bị hủy bỏ.

[1] Điều 330, Bộ luật Dân sự 2015

[2] Điều 315 và Điều 327, Bộ luật Dân sự 2015

[3]Điều 4, UCP600: “Về bản chất, tín dụng là một giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán hay bất kỳ hợp đồng nào khác mà có thể là cơ sở của tín dụng. Các ngân hàng không liên quan đến và cũng không bị ràng buộc bởi các hợp đồng đó, thậm chí là khi tín dụng dẫn chiếu đến các hợp đồng đó. Do đó, sự cam kết của ngân hàng về thanh toán, thương lượng hay thực hiện bất kỳ nghĩa vụ của tín dụng đều không phụ thuộc vào các khiếu nại hay biện hộ của người yêu cầu phát hành tín dụng phát sinh từ quan hệ của họ với ngân hàng phát hành hay người thụ hưởng”.